| |
Chính sách đối ngoại của nước CHXHCN Việt Nam
Trong công cuộc đổi mới của Việt Nam, Đại hội VII
(1991), Hội nghị Trung ương 3 (khóaVII) và Đại hội VIII
(1996) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã liên tiếp đề ra và phát
triển đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, chính sách đối
ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa với phương châm
"Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng
quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển" nhằm
mục tiêu "giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp
tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc đồng thời góp phần tích
cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa
bình, độc lập dân tộc, dânchủ và tiến bộ xã hội" Từ năm 1991
đến nay, hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam
diễn ra cùng một lúc trên 4 mặt :
Một là, tạo dựng và củng cố
môi trường hòa bình, ổn định cho công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Việc củng cố và thúc đẩy các mối quan hệ song
phương, nhất là quan hệ với các nước láng giềng và các nước
trong khu vực có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với việc thực
hiện nhiệm vụ quan trọng này. Nhận thức rõ điều đó, hoạt
động đối ngoại đã tập trung giải quyết vấn đề Campuchia và
bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Đồng thời triển khai
mạnh mẽ các hoạt động ngoại giao song phương cấp cao với các
nước ASEAN, chủ động tham gia các hoạt động của Hiệp hội và
năm 1995, Việt Nam chính thức tham gia
ASEAN. Việc Việt Nam
gia nhập ASEAN là một quyết định đúng đắn và kịp thời. Cùng
với việc giải quyết hòa bình vấn đề
Campuchia, bình thường
hóa quan hệ với Trung Quốc, nối lại quan hệ với các tổ chức
tài chính quốc tế, ký Hiệp định khung với với Liên minh châu
Âu, bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ, củng cố và mở
rộng quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, các nước độc
lập dân tộc và các nước đang phát triển ở châu á, Trung
Đông, châu Phi, Mỹ La-tinh và các nước công nghiệp phát
triển trên thế giới... việc Việt Nam gia nhập ASEAN góp phần
phá thế bị bao vây, cô lập, tạo ra môi trường hòa bình, ổn
định và thuận lợi hơn cho sự nghiệp xây dựng đất nước, đưa
Việt Nam hội nhập về kinh tế với khu vực và quốc tế. Mặt
khác, để góp phần bảo đảm an ninh và ổn định cho đất nước,
hoạt động đối ngoại của Việt Nam đã góp phần chủ động và
tích cực giải quyết những vấn đề tồn tại với các nước láng
giềng và các nước ở khu vực như đàm phán và ký Hiệp định
biên giới với Lào, thỏa thuận về khai thác chung với
Ma-lai-xi-a trên vùng chồng lấn, phân định vùng chồng lấn
với Thái Lan, đàm phán và ký Hiệp định về biên giới trên bộ
với Trung Quốc và đang đàm phán để có thể ký Hiệp định về
phân định vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc trong năm 2000, tiếp
tục đàm phán với In-đô-nê-xi-a về phân định thềm lục địa,
tiếp tục đàm phán với Campuchia để giải quyết những vấn đề
còn tồn đọng về biên giới lãnh thổ. Hoạt động đối ngoại cũng
đã góp phần kiên quyết đấu tranh chống âm mưu và hành động
lợi dụng chiêu bài "nhân quyền", "dân chủ" và "tự do tín
ngưỡng" để can thiệp vào công việc nội bộ Việt Nam. Toàn bộ
các hoạt động trên đã góp phần quan trọng và thiết thực vào
việc tạo dựng môi trường khu vực tương đối ổn định và thuận
lợi cho đất nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hai là, ra sức tranh thủ những
điều kiện quốc tế thuận lợi góp phần vào công cuộc phát
triển đất nước, mở rộng hợp tác kinh tế. Đây là một nhiệm vụ
trọng tâm của ngoại giao Việt Nam thời kỳ đổi mới. Nhờ những
thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới và chính sách đối
ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế,
Việt Nam đã làm thất bại chính sách bao vây cấm vận của Mỹ
và đồng minh, mở rộng và đa dạng hóa thị trường, thúc đẩy
quan hệ kinh tế thương mại song phương với hơn 130 nước và
lãnh thổ, đón nhận nguồn đầu tư trên 36 tỷ USD của hơn 60
nước và lãnh thổ, tranh thủ hơn 13 tỷ USD từ nguồn viện trợ
ưu đãi chính thức của các chính phủ và các tổ chức quốc tế
và hàng tỷ USD viện trợ không hoàn lại của nhiều chính phủ
và các tổ chức quốc tế thuộc hệ thống Liên hợp quốc và các
tổ chức phi chính phủ. Việc tạo dựng môi trường quốc tế hòa
bình, tăng cường hợp tác, mở rộng thị trường, tranh thủ vốn,
công nghệ phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đất nước cũng là sự
đóng góp trực tiếp và thiết thực cho yêu cầu bảo đảm an
ninh. Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ,
lực lượng sản xuất phát triển nhanh và quốc tế hóa cao độ,
đẩy nhanh xu thế toàn cầu hóa. Trong bối cảnh đó, các nước
đều tìm cách giành cho mình một vị thế xứng đáng trong phân
công lao động quốc tế, tranh thủ vốn, công nghệ, kỹ năng
quản lý để phát triển, đấu tranh để bảo vệ lợi ích của mình.
Nhận rõ xu thế đó, Việt Nam đã đề ra chủ trương hội nhập và
kiên trì thực hiện chủ trương đó. Đại hội lần thứ VIII của
Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định "đẩy nhanh quá trình
hội nhập kinh tế khu vực và thế giới". Từ đầu những năm 90
Việt Nam đã khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính
quốc tế, tiếp đó năm 1995 chính thức gia nhập ASEAN và tham
gia AFTA. Năm 1996 Việt Nam tham gia Diễn đàn hợp tác á - Âu
(ASEM) với tư cách là thành viên sáng lập và năm 1998 trở
thành thành viên chính thức của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế
châu á - Thái Bình Dương (APEC). Việt Nam cũng đã đàm phán
và ký Hiệp định Thương mại với Mỹ và đang đàm phán về việc
gia nhập WTO, mức hội nhập cao nhất, rộng nhất, có ý nghĩa
quan trọng đối với việc thiết lập môi trường buôn bán và
quan hệ hợp tác kinh tế với toàn bộ thế giới.
Ba là, nâng cao vị thế nước
nhà trên trường quốc tế. Thực hiện đường lối đối ngoại độc
lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, đến nay Việt Nam đã
có quan hệ ngoại giao với 167 nước thuộc tất cả các châu lục
và lần đầu tiên trong lịch sử có quan hệ bình thường với tất
cả các nước lớn, các ủy viên thường trực của Hội đồng bảo an
Liên hợp quốc. Trong điều kiện quốc tế ngày nay khi quá
trình hội nhập ngày càng được xúc tiến
nhanh, ngoại giao đa
phương ngày càng giữ một vị trí quan trọng, góp phần nâng
cao vị thế quốc tế của đất nước trên thế giới. Việt Nam đã
hoạt động tích cực với vai trò ngày càng tăng tại Liên hợp
quốc (ủy viên ECOSOC, ủy viên Hội đồng chấp hành
UNDP, UNFPA
và UPU...), phát huy vai trò thành viên tích cực của phong
trào Không liên kết, Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng
Pháp, ASEAN ... Việc Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị
cấp cao Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp năm 1997 và
đặc biệt là Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 6 năm 1998 đã góp
phần quan trọng nâng cao uy tín và vị thế của đất nước. Có
thể nói ngoại giao đa phương là một điểm sáng trong hoạt
động ngoại giao thời đổi mới. Những kết quả đạt được trong
mối quan hệ đan xen này đã củng cố và nâng cao vị thế quốc
tế của đất nước , tạo ra thế cơ động linh hoạt trong quan hệ
quốc tế, có lợi cho việc bảo vệ độc lập tự chủ và an ninh
cũng như công cuộc xây dưng đất nước.
Bốn là, chủ động tích cực góp
phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình,
độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Các hoạt động
đối ngoại phong phú, đa dạng cả theo đường Đảng lẫn Nhà nước
và các hoạt động quốc tế nhân dân đã góp phần duy trì và
củng cố quan hệ đoàn kết hữu nghị với các đảng phái chính
trị, trước hết là các Đảng cộng sản và công nhân, các tổ
chức tiến bộ đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân
chủ, từ đó tranh thủ sự hỗ trợ về chính trị có lợi cho công
cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bước vào thế kỷ 21, Việt
Nam tiếp tục kiên trì đường lối đối ngoại độc lập tự chủ,
rộng mở, chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ
quốc tế theo phương châm "Việt nam muốn là bạn và là đối tác
tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì
hòa bình, độc lập và phát triển". Nhiệm vụ của hoạt động đối
ngoại trong thời gian tới là tiếp tục tạo môi trường và điều
kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã
hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh
chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc,
dân chủ và tiến bộ xã hội. Việt Nam sẽ chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa
nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập
tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân
tộc, giữ vững an ninh quốc gia, phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc, bảo vệ môi trường sinh thái./.
 
|
|