TỔNG
QUAN KINH TẾ VIỆT NAM
Từ những
đầu năm 90, Kinh tế Việt nam trong quá trình chuyển đổi từ
nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường có định
hướng xã hội chủ nghĩa. Trong những năm đầu của quá trình
đổi mới Việt nam đã thu được những thành công về kinh tế
đáng kể đó là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao và kim ngạch
xuất khẩu tăng mạnh. Thương mại chiếm tới 44% của GDP. Nhưng
đồng thời từ vài năm nay những nổi cộm về cơ cấu cũng thể
hiện rõ và có những biện pháp khắc phục dần như chuyển đổi
các doanh nghiệp nhà nước làm ăn không có hiệu quả, cải tổ
lĩnh vực Tài chính và Ngân hàng, xây dựng một cơ chế hành
chính có hiệu quả và một nhà nước Pháp quyền. 
Đảng và
Chỉnh phủ Việt Nam cũng nhận thấy rõ ràng rằng không có sự
phát triển hiệu quả của thành phần kinh tế tư nhân thì mục
đích tăng trưởng và tạo công ăn việc làm sẽ không thể đạt
được. Từ khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực đến nay số lượng
các doanh nghiệp tư nhân đăng ký đã tăng lên gấp 3 lần (70
000 doanh nghiệp) và tạo ra hàng trăm chỗ làm việc mới.
Tháng 4
năm 2001 Đại hội Đảng lần thứ 9 đã thông qua Chiến lược phát
triển Kinh tế xã hội giai đoạn 2001-2010. Trên cơ sở của
Chiến lược này mục đích đưa ra là đến những năm cuối của
giai đoạn sự tăng trưởng kinh tế phải tăng lên gấp đôi điều
đó có nghĩa là đến năm 2005 mức tăng trưởng kinh tế hàng năm
phải tăng 7% và từ năm 2006 đến 2010 mức tăng trưởng kinh tế
hàng năm phải là 7,5%. Mặc dù nền kinh tế thế giới có sự suy
yếu nhẹ, ở một số mặt hàng nông nghiệp quan trọng giá cả có
giảm nhẹ và sự cạnh tranh tăng mạnh nhưng những mục tiêu đặt
ra ở trên đã thực hiện được. Năm 2001 Việt nam đã đạt được
mức tăng trưởng là 6,8% có giảm nhẹ so với năm trước nhưng
vấn đứng vị trí thứ hai trong khu vực sau Trung quốc . (Tổng
sản phẩm quốc nội đạt 30 tỷ USD hơn GDP của Bang Mecklenburg
– Vorpommern). Với động cơ phát triển của thành phần kinh tế
tư nhân và sức mua gia tăng trong nước do vậy trong 3 quý
đầu của năm 2002 đã có mức tăng trưởng là 6,9%.
Vào những
năm cuối vừa qua đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Việt nam đã
giảm. Khi so sánh tỷ lệ với GDP đã giảm từ 7,5% (1996) xuống
còn 2,5 % (2000) và ít hơn các nguồn tài trợ của các nước và
các tổ chức quốc tế (5%). Tổng chi từ ngân sách nhà nước cho
các mục đích đầu tư của năm 2001 là 5,9 tỷ USD và vì vậy mà
mức thâm hụt ngân sách đạt tới 2 tỷ USD, mức cao nhất từ
trước đến nay. Để thanh toán các món nợ nước ngoài từ nay
đến năm 2005 Việt nam phải có 9,6 tỷ USD. Số nợ trên GDP
được dự toán là 46% trong đó 1,5 tỷ USD là nợ dịch vụ.
Giá cả
tiếp tục ổn định. Lạm phát năm 2001 là –0,35%. Mức độ đắt đỏ
của một số mặt hàng lương thực phẩm chính trong nửa năm đầu
2002 đã đạt tới 3%. Với mức cho vay tín dụng thấp và tạo
điều kiện thoáng trong việc qui định mức tín dụng, Ngân hàng
nhà nước đã cố gắng tiếp tục ổn định thị trường.
 
|