|
TÂY
TẠNG VÀ NHỮNG NGÀY LỄ
Tây Tạng(TT) là một trong 5 khu
tự trị của Trung Quốc, dân
tộc chủ thể là dân tộc
Tạng.
TT được mệnh danh là thánh địa
c ủa
Tôn giáo, tôn giáo nguyên thuỷ là
Bổn Giáo và Phật giáo đã
từng lưu truyền từ đây.
Đến thế kỷ 10, Tôn giáo (chủ
yếu là Phật giáo) một lần
nữa trở lại TT, hình thành Phật giáo
Tạng Truyền mang đặc điệm
của TT. Dân tộc Tạng trên cơ
bản là toàn dân tín ngưỡng
Phật giáo, một số theo Bổn giáo,
Thiên chúa giáo và I-slam. Chính vì có một
nền tảng văn hoá tôn giáo như
vậy, nhiều lễ nghi và tết lễ
đều gắn với tôn giáo:
Lễ dâng Ha-đa (Dải
lụa trắng): Đây là một
lễ nghi phổ biến nhất tại TT.
Bất kỳ ở trường hợp nào,
cưới xin, tang lễ, gặp gỡ, bái
phật, nghênh đón khách v,v, thông thường
đều bắt đầu bằng lễ
dâng Ha-đa. Ha-đa là một dải
lụa tơ, dài ngắn bất kể.
Lễ dâng Ha-đa là sự biểu
hiện trong trắng, thành tâm, trung thành
giữa người với người.
Từ ngàn xưa, người Tạng đã
quan niệm mầu trắng tượng trưng
cho sự trong trắng, cát tường, cho nên
Ha-đa phải làm bằng dải lụa
trắng là như vậy.
Lễ kính rượu trà: Đến
thăm gia đình người Tạng,
chủ nhà nhất định đón khách
bằng rượu, thường là rượu
Thanh Khoa, một loại rượu
được cất hạt Thanh Khoa (một
giống lúa thường trồng tại vùng
TT), mùi vị gần như rượu vang,
độ cồn từ 15-20 độ. Khi
mời khách, người khách nhấm
một ngụm, sau đó chủ nhà thêm ngay,
cho đến khi người khách uống
cạn chén. Còn uống trà là lẽ
sống thường tình, sau khi khách vào nhà,
bà chủ nhân và con gái sẽ giót cho khách
một bát chè bơ (sữa bò), người
khách phải chờ đến khi chủ nhân
bâng đến tận nơi thì mới
đón lấy và uống, như vậy
để tỏ ra lịch lãm.
Lễ chào hỏi: Khi gặp người
Tạng, câu
chào sau tên gọi phải thêm âm
"la", để tỏ lòng kính
trọng. Khi đi trên đường, không
nên cướp bước. Nếu gặp
trực diện thì nên nhường lối
trước. Ngoài ra người Tạng còn
rất chú ý khi ăn uống, tức là
miếng không đầy mồm, nhai không
ra tiếng, uống không húp ra tiếng...
Lễ tránh tang: Trong dân gian TT,
Thiên Táng (để xác ngoài trời) là
lễ tang thường gặp. Đối
với Thiên Táng, dân gian có nhiều
cấm kỵ, kể cả cấm người
đến ngó xem.
Tết Lịch Tạng. Lịch
Tạng là một cuốn lịch thiên văn
nổi tiếng của Trung Quốc. Kỷ
nguyên của lịch Tạng kế thừa
từ Lịch Hạ (thời Xuân thu
chiến quốc), tứ là ngũ hành và 12
sinh tiêu, 60 năm một giáp, 3 năm
nhuận một lần. Dân tộc
Tạng ăn tết theo lịch Tạng,
bắt đầu từ mồng 1 tháng riêng,
kèo dài 3 đến 5 ngày.
Tết Hoa Đăng: Rắm tháng
riêng lịch Tạng là tết Hoa Đăng.
Nguyên là ngày các tín đồ tôn giáo
tập hợp với nhau, mọi tínđồ
đều làm hoa đăng thắp dầu
bơ để cúng phật. Về sau
lại tăng thêm Tháp đăng, giàn
đăng, và dùng bơ nặn các hình người
hình thú, hoa lá cỏ
cây, chim muông đểômị người
thưởng thức.
Tết Mộc Dục (Tết tắm):
Thượng tuần tháng 7 lịch Tạng,
tất cả đồng bào Tạng trên cao
nguyên Tây Tạng, đều tổ
chức một ngày hội tắm bên sông,
thường kéo dài một tuần, cho nên còn
gọi là Tuần Mộc Dục (Tuấn
tắm).
Tết Sê-đôn: Trong tiếng
Tạng Sê là quả sữa chua, đôn
là bữa ăn, tết Sê-đôn
tức là tết ăn quả sữa chua. Nhưng
tết Sê-đôn về sau diễn
biến thành Tết hát tuồng Tạng là
chính, cho nên còn gọi là tết Tuồng
Tạng. Thời gian vào cuối tháng 6 đầu
tháng 7 lịch Tạng.
Tết Sa-gda-va: Đó là ngày 15 tháng
4 lịch Tạng, tương truyền đó
là ngày sinh và hoá phật của Thích ca Mâu
ni; lại tương truyền đó là ngày
Công chúa Văn Thành đến La-sha. Hàng
năm ngày này đều tổ chức
nhiều hoạt động kỷ niệm và
vui chơi.
Tết Zang-mu-lin-ji-san: Nguyên ý
của ngày này là "Ngày thế giới cúng
phật:", đây là ngày tết mà người
La-sha đến các công viên vui chơi, múa
hát, tản bộ, ăn uống, chúc
mừng cuộc sống luôn luộn tưới
đẹp, thường tổ chức vào
thượng tuần tháng 5 lịch Tạng.
 
|
|